CẤU HÌNH CỦA DÂY
Cách sắp xếp những chất truyền điện , chất cách điện & jack cắm trong dây
sẽ làm nên cấu hình dây dẫn. đối với 1 số công ty , cấu hình dây dẫn là yếu tố
quan trọng nhất trong việc thiết kế dây, hơn cả vật liệu của chất truyền điện
& kiểu dáng dây.
1 Ví dụ chứng tỏ cấu hình có một số tác động đến sự trình diễn của
dây đó là thay vì chạy hai
dây truyền điện song song với nhau thì ta xoắn chúng lại với nhau 1 cách đơn
giản . Việc xoắn lại sẽ giúp giảm đáng kể điện dung & trở kháng trong dây.
Cấu hình mà trong đó hai dây dẫn mắc song song với tương tự như sơ đồ của 1 tụ
điện có hai dây chạy song song với nhau.
hầu hết những nhà thiết kế dây đều
đồng ý rằng sự tác động giữa các sợi dẫn hay còn gọi là hiệu ứng mặt ngoài (skin
effect) là nguyên do chính làm giảm đi chất lượng cao âm thanh của
dây amply toa a2240 . một dây dẫn có
hiệu ứng mặt ngoài cao thì tín hiệu tần số cao sẽ di chuyển nhiều ở phía bề mặt
của dây và ít đi dần ở phần giữa của dây. Vấn đề này xảy ra trong cả chất dẫn
điện sử dụng dây cứng hoặc nhiều dây nhỏ tạo nên . Hiệu ứng phía ngoài làm thay
mới đặc tính của dây ở một số độ sâu khác nhau và điều này làm ảnh hưởng đến một
số tần số không giống nhau của tín hiệu âm thanh. Âm thanh tạo ra bị tác động
bởi hiệu ứng mặt ngoài sẽ mất đi độ chi tiết, độ thoáng ở quãng tám cao nhất
& độ sâu của màn âm thanh.
Kỹ thuật xử lý “hiệu ứng mặt ngoài” là sử dụng kết cấu litz, loại kết cấu mà
trong đó mỗi tao dây nhỏ trong nhóm dây được phủ lên một lớp chất cách điện để
ngăn chúng khỏi sự tiếp xúc điện với các tao dây khác xung quanh. Mỗi tao dây
nhỏ trong kết cấu litz này gần như tương bạc hoặc đồng nhau về mặt điện tính.
một số tao dây này sẽ làm cho các vấn đề do hiệu ứng mặt ngoài gây cho âm thanh
ra không thể bị nghe thấy bởi tai. bởi vì một số tao dây rất mảnh nên chúng sẽ
được bó lại với nhau theo một trật tự khá tự do để tạo nên một lõi dây đủ mức
lớn để có được điện trở thấp.
các dây có kết cấu chất dẫn điện bao gồm nhiều tao dây nhỏ nếu không dùng kết
cấu litz có thể gặp phải hiện tượng tín hệu “nhảy” từ sợi này sang sợi khác khi
dây được xoắn lại. Khi dây xoắn lại một tao dây sẽ nằm phía ngoài một điểm trên
dây & sau đó sẽ nằm phía trong điểm đó nhưng ở 1 vị trí thấp hơn. Do “hiệu
ứng mặt ngoài”, nguồn tín hiệu có xu hướng chạy ở những điểm phía ngoài của tao
dây & khiến cho chúng nhảy qua những tao dây khác. Rất giống với cấu trúc
dạng thớ trong dây bạc hoặc đồng bề mặt của mỗi tao dây cũng họat động như 1
mạch nhỏ với điện dung và hiêu ứng của 1 diode,
những tao dây riêng biệt trong một nhóm dây cũng có thể sinh ra từ trường và
một số từ trường này tương tác với nhau. bất cứ khi nào dòng điện đưa vào dây
thì từ trường sẽ được hình thành xung quanh dây. Nếu là dòng điện xoay chiều thì
từ trường của những tao dây tạo ra sẽ dao động tương tự nhau. Từ trường này có
thể gây tác động đến tín hiệu trên các nhóm dây liền kề và chính vì vậy làm giảm
chất lượng âm thanh của dây. một số cấu hình dây có thể làm giảm đi sự tương tác
từ trường này bằng cách sắp xếp các tao dây bao xung quanh một chất cách điện
được đặt ở giữa giúp cách chúng ra với nhau.
THÔNG SỐ KỸ THUẬT CỦA DÂY DẪN
Có khá nhiều những quảng cáo thổi phồng và chỉ là những thông tin sai lệch về
dây dẫn. những doanh nghiệp đôi khi cảm thấy bắt buộc phải phát minh ra 1 lý do
kỹ thuật nào đó để giải thích tại sao dây toa a2060 của họ nghe hay hơn các
đối thủ cạnh tranh. thực tế thì , thiết kế dây là một 1 nghệ thuật “ khá bí ẩn”
với các kiểu dáng đẹp mắt bên ngoài nhưng khi nghe kỹ lại có rất nhiều các vấn
đề phiền phức & lỗi kỹ thuật. mặc dù là một số chất truyền điện , chất cách
điện và cấu hình dây cụ thể có các đặc điểm thiet
bi am thanh cong cong riêng biệt nhưng những thiết kế dây
được coi là đạt không có khả năng chỉ được diễn đạt bởi các thuật ngữ kỹ thuật.
điều này lý giải lý do vì đâu không nên chọn dây mà chỉ dựa vào các thông số và
mô tả kỹ thuật của dây.
Mặc dù thế trong 1 số trường hợp cũng cần phải lưu ý đến 3 thông số kỹ thuật
có liên quan đến dây đó là: điện dung, độ tự cảm và trở kháng.
Điện trở của
dây, được gọi là điện trở dòng điện 1 chiều, là sự đo lường mức độ cản trở dòng
điện đi qua dây. Đơn vị đo của điện trở là ohm. Ohm càng thấp thì sự cản trở
dòng điện của dây càng thấp. Điện trở không phải là yếu tố tác động đến sự trình
diễn của dây nguồn tín hiệu (trừ một số loại dây mới không mang tính kim lọai),
nhưng lại tác động đến một số dây loa nhất là những dây mảnh do một số dây âm
thanh cần phải truyền đi dòng điện có cường độ cao.
Âm thanh của dây có thể bị ảnh hưởng bởi độ tự cảm của dây. Độ tự cảm của dây
càng bé thì càng tốt , đặc biệt là ở trong dây âm thanh . Mặc dù vậy một vài
ampli sức mạnh cần phải có 1 mức độ tự cảm cần thiết để có khả năng hoạt động
khá tôt, nhiều ampli khác thì có phần cảm điện đầu ra được tích hợp vào một số
trạm cắm của loa (bên trong các chassis). Khi tính độ tự cảm cần thiết cho ampli
công suất thì cần phải cộng cả trở kháng của dây vào độ tự cảm của loa.
Điện dung là một yếu tố có tác động rất lớn đến dây nguồn tín hiệu , đặc biệt
là khi bắt buộc phải chạy dây nguồn tín hiệu dài hoặc là khi thiết bị nguồn có
trở kháng đầu ra cao. Điện dung của dây tín hiệu được đo bằng số picofarads/foot
(1foot = 0,3048m). Điều cần lưu tâm không phải là điện dung bên trong của dây mà
là tổng điện dung gắn vào bộ phận nguồn. Ví dụ , một dây tín hiệu dài 5 feet có
điện dung 500pF sẽ có tổng điện dung bằng với dây có chiều dài 50 feet với điện
dung là 50pF. Điên dung trong dây tín hiệu cao sẽ khiến cho âm treble bị mất đi
& dải động bị giảm bớt .



0 nhận xét:
Đăng nhận xét